TRUNG BỘ KINH SỐ 19 – KINH SONG TẦM

Trước khi thành Chánh Giác, Thế Tôn phân biệt hai loại suy tầm: những suy tầm dẫn đến dục, sân, hại – được xếp vào nhóm thứ nhất; những suy tầm dẫn đến ly dục, vô sân, vô hại – xếp vào nhóm thứ hai. Khi dục, sân, hay hại tầm khởi lên, Ngài quán sát chúng một cách sáng suốt: nếu những tầm này dẫn đến tự hại, hại người, hại cả hai, hay diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não và không đưa đến Niết-bàn, chúng tự nhiên biến mất nhờ sự xả ly và tuệ tri.

Ngược lại, khi ly dục, vô sân, vô hại tầm khởi lên, Ngài quán sát rằng những tầm này không gây hại, giúp tăng trưởng trí tuệ và đưa đến Niết-bàn. Khi quán sát lâu, cơ thể có thể mệt mỏi, tâm bị dao động, nhưng Thế Tôn tự trấn an, định tâm, đạt nhất tâm và định tĩnh, đảm bảo không bị xao lãng trong thiền định.

Trong thiền, Ngài lần lượt chứng các Tứ Thiền:

  1. Thiền thứ nhất: hỷ lạc sinh từ ly dục, có tầm, có tứ.
  2. Thiền thứ hai: hỷ lạc sinh từ định, không tầm, không tứ.
  3. Thiền thứ ba: xả niệm lạc trú, thân cảm lạc thọ, hỷ đã diệt.
  4. Thiền thứ tư: xả lạc xả khổ, tâm thanh tịnh, không khổ, không lạc, xả niệm.

Sau đó, Thế Tôn phát triển túc mạng trí để nhớ các đời sống quá khứ, và thiên nhãn để thấy sinh tử của chúng sanh, nhận rõ hạnh nghiệp tốt xấu quyết định cảnh giới sinh tử. Trong canh ba, Ngài chứng lậu tận trí, biết rõ khổ, nguyên nhân khổ, khổ diệt, con đường dẫn đến khổ diệt, lậu hoặc và cách đoạn trừ chúng. Nhờ đó, tâm Ngài hoàn toàn giải thoát: sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại.

Thế Tôn ví dụ đoàn nai trong rừng thác ghềnh: hồ nước lớn tượng trưng dục, đoàn nai tượng trưng chúng sanh, người chặn đường nguy hiểm tượng trưng ác ma, còn Ngài mở đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ tượng trưng Thánh đạo Tám ngành. Nhờ đó, Ngài đưa chúng sanh đến lợi ích, hạnh phúc, an ổn khỏi ách nạn, đồng thời đóng con đường tà đạo, diệt tham hỷ và vô minh.

Tóm lại, bài kinh nhấn mạnh: tuệ tri các tầm, xả ly dục, sân, hại; tu tập thiền định; minh sát sinh tử và nghiệp của chúng sanh; thực hành Tám Chánh Đạo để tự giải thoát và dẫn dắt người khác đến an lạc.