Bài kinh kể về Đức Phật trú tại Xá-vệ, Kỳ-đà-lâm, tinh xá ông Cấp Cô Độc. Ngài dạy các Tỷ-kheo về cách xác chứng một người thật sự đã đoạn tận lậu hoặc và đạt giải thoát, thay vì chỉ dựa vào lời tự tuyên bố rằng mình đã chứng ngộ.
Khi một Tỷ-kheo tuyên bố: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm”, không nên vội tán thán hay bác bỏ mà cần xem xét sự giải thoát của vị ấy qua nhiều phương diện. Trước hết, vị ấy phải không còn luyến ái hay chống đối đối với những gì được thấy, nghe, cảm giác và nhận thức.
Tiếp theo, vị ấy phải thấy rõ năm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức đều yếu kém, biến hoại, không an ổn; nhờ đoạn trừ mọi cố chấp và chấp thủ đối với năm uẩn mà tâm được giải thoát.
Đối với sáu giới gồm đất, nước, lửa, gió, hư không và thức, hành giả thấy chúng không phải tự ngã, không còn chấp trước vào chúng. Đồng thời, đối với sáu nội ngoại xứ – mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp – vị ấy đoạn tận dục, tham, hỷ, ái và mọi sự chấp thủ.
Đức Phật cũng trình bày con đường thực hành đưa đến giải thoát: xuất gia, giữ giới, sống tri túc, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, tìm nơi thanh vắng tu tập, đoạn trừ năm triền cái và lần lượt chứng bốn Thiền.
Với tâm định tĩnh và thanh tịnh, hành giả thấy rõ Khổ, nguyên nhân của Khổ, sự diệt Khổ và con đường đưa đến diệt Khổ, đồng thời đoạn tận dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Khi ấy vị ấy biết mình đã giải thoát, không còn mạn chấp về “ta” và “của ta”.
Tóm lại, bài kinh nhấn mạnh:
- Không nên chỉ dựa vào lời tuyên bố chứng ngộ, mà phải xét sự đoạn tận chấp thủ.
- Người giải thoát không còn chấp trước vào năm thủ uẩn, sáu giới và sáu nội ngoại xứ.
- Con đường tu tập gồm giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm, đoạn năm triền cái và tu bốn Thiền.
- Nhờ trí tuệ thấy rõ Khổ và con đường diệt Khổ, các lậu hoặc được đoạn tận.
- Giải thoát chân thật là khi không còn tham ái, chấp thủ và mạn chấp “ta”, “của ta”.
