Bài kinh kể về Đức Phật trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở Đại Lâm, tại Trùng Các giảng đường. Khi nhiều Tỷ-kheo tuyên bố mình đã chứng trí giác, Sunakkhatta thưa hỏi Đức Phật liệu tất cả đều thật sự chứng ngộ hay có người do tăng thượng mạn, chưa chứng mà tưởng đã chứng. Đức Phật xác nhận có cả hai trường hợp và Ngài thuyết pháp nhằm giúp những vị còn lầm tưởng nhận ra con đường đúng đắn.
Đức Phật giảng về năm dục trưởng dưỡng gồm sắc, thanh, hương, vị và xúc. Người còn thiên về dục lạc thế gian thường thích những gì phù hợp với khuynh hướng của mình, trong khi người tu tập dần hướng tâm đến những tầng cao hơn: Bất động, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng và cuối cùng là chánh Niết-bàn.
Tuy nhiên, điều nguy hiểm là hành giả tưởng mình đã đoạn tận tham ái và vô minh rồi sinh tâm tự mãn. Nếu không tiếp tục phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, tham dục vẫn có thể trở lại nhiễu loạn tâm, khiến người tu sa sút.
Đức Phật ví điều này như người bị trúng mũi tên độc. Dù mũi tên đã được lấy ra, nếu không chăm sóc vết thương đúng cách thì bệnh có thể trở lại. Cũng vậy, hành giả phải tiếp tục giữ gìn và phòng hộ, không được chủ quan trước những thành tựu của mình.
Trong ví dụ ấy, vết thương là sáu xúc xứ, thuốc độc là vô minh, mũi tên là ái, dụng cụ dò tìm là niệm, con dao là Thánh trí tuệ và vị y sĩ là Như Lai. Người tu nhờ phòng hộ sáu xúc xứ, thấy rõ sanh y là căn bản của khổ và đoạn trừ chấp thủ mà hướng đến giải thoát.
Tóm lại, bài kinh nhấn mạnh:
- Không nên tăng thượng mạn, chưa chứng mà tưởng mình đã chứng.
- Người tu phải từng bước vượt khỏi sự ràng buộc của dục và hướng đến Niết-bàn.
- Tham ái là mũi tên, vô minh là thuốc độc gây nên khổ đau.
- Phải luôn phòng hộ sáu căn, không chủ quan hay buông lung.
- Nhờ niệm và trí tuệ, hành giả đoạn trừ tham ái, chấp thủ và tiến đến giải thoát.
