TRUNG BỘ KINH SỐ 88 – KINH BÀHITIKA

Một thời, Đức Thế Tôn an trú tại tinh xá Kỳ Viên, thành Xá-vệ. Hôm ấy, sau khi khất thực xong, Tôn giả A-nan đến nghỉ trưa tại Đông Viên Lộc Mẫu giảng đường. Trên đường ra khỏi thành, vua Pasenadi nước Kosala nhìn thấy Tôn giả từ xa nên sai người thỉnh ngài chờ trong giây lát để được đến đảnh lễ và thưa hỏi Phật pháp.

Đến nơi, vua cung kính đảnh lễ Tôn giả A-nan rồi ngồi xuống bên cạnh. Nhà vua mở đầu bằng câu hỏi liệu Đức Phật có từng thực hiện những hành động về thân, lời nói hay ý nghĩ mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách hay không. Tôn giả A-nan khẳng định rằng Đức Thế Tôn hoàn toàn không có bất kỳ thân hành, khẩu hành hay ý hành nào đáng bị người trí chỉ trích. Nghe vậy, vua vô cùng hoan hỷ và bày tỏ rằng lời xác nhận của một bậc Thánh đệ tử đầy đủ hơn bất cứ điều gì nhà vua có thể tự suy luận.

Nhà vua tiếp tục thỉnh hỏi thế nào là những hành động bị người trí quở trách. Tôn giả A-nan tuần tự giải thích rằng tất cả thân hành, khẩu hành và ý hành bất thiện đều là những hành động có tội, có hại và dẫn đến khổ báo. Những hành động ấy làm tổn hại chính mình, làm hại người khác hoặc gây tổn hại cho cả hai bên. Đồng thời, chúng khiến các pháp bất thiện ngày càng tăng trưởng, còn các pháp thiện thì suy giảm. Chính vì vậy, đó là những hành động mà các bậc hiền trí luôn khuyên nên tránh xa.

Sau đó, vua Pasenadi hỏi ngược lại về những hành động được người trí tán thán. Tôn giả A-nan giải thích rằng thiện thân hành, thiện khẩu hành và thiện ý hành đều là những hành động không có tội, không gây tổn hại và đưa đến quả báo an vui. Người thực hành các thiện nghiệp ấy không làm hại bản thân, không làm hại người khác và cũng không gây tổn hại cho cả hai. Nhờ vậy, các pháp bất thiện dần được đoạn trừ, còn các pháp thiện ngày càng tăng trưởng. Tôn giả cũng khẳng định rằng Đức Phật đã hoàn toàn đoạn tận mọi điều bất thiện và viên mãn tất cả các thiện pháp, nên Như Lai luôn tán thán sự từ bỏ điều ác và sự thành tựu điều lành.

Sau khi nghe toàn bộ lời giải thích, vua Pasenadi vô cùng hoan hỷ và khâm phục trí tuệ của Tôn giả A-nan. Nhà vua ngỏ ý cúng dường nhiều phẩm vật quý giá như voi báu, ngựa báu hay một ngôi làng, nhưng biết rằng Tôn giả không được phép thọ nhận những vật ấy. Vì vậy, vua thành tâm dâng lên Tôn giả một tấm vải quý do vua Ajātasattu nước Magadha gửi tặng. Ban đầu, Tôn giả A-nan từ chối vì đã đủ ba y, nhưng nhà vua khéo léo thưa rằng nếu Tôn giả nhận tấm vải này để may y mới rồi đem những chiếc y cũ chia cho các vị đồng phạm hạnh thì phước báu của sự cúng dường sẽ được lan rộng đến nhiều người. Trước thiện ý ấy, Tôn giả A-nan hoan hỷ nhận tấm vải.

Sau khi vua Pasenadi cáo từ, Tôn giả A-nan đến bạch lại toàn bộ cuộc đối thoại với Đức Thế Tôn và dâng tấm vải quý lên Ngài. Đức Phật khen ngợi vua Pasenadi là người có nhiều phước duyên vì đã được gặp gỡ, thưa hỏi giáo pháp với Tôn giả A-nan và phát tâm cúng dường đúng pháp. Các vị Tỷ-kheo nghe lời Đức Phật dạy đều hoan hỷ tín thọ.

Bài kinh nhấn mạnh rằng giá trị của một con người không được đánh giá qua địa vị hay danh vọng mà qua thân, khẩu và ý. Mọi hành động, lời nói và ý nghĩ nếu xuất phát từ tham, sân, si sẽ gây hại cho mình và người, dẫn đến khổ đau; ngược lại, khi được xây dựng trên nền tảng thiện lành sẽ đem lại lợi ích và an lạc cho tất cả. Đức Phật là bậc đã đoạn tận mọi điều bất thiện và viên mãn mọi thiện pháp, vì vậy người học Phật cần thường xuyên quán chiếu ba nghiệp của mình, từ bỏ điều ác, nuôi dưỡng điều thiện và sống sao cho không làm tổn hại bản thân cũng như mọi người xung quanh.

 

Để lại một bình luận