TRUNG BỘ KINH SỐ 7 – KINH VÍ DỤ TẤM VẢI

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Xá-vệ, trong vườn Kỳ-đà Lâm của ông Cấp Cô Ðộc. Ngài gọi các Tỷ-kheo và dạy:

“Hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng chỉ thừa tự tài vật. Nếu các con chỉ chạy theo của cải, không học theo Pháp, cả thầy và trò đều bị xem trọng về vật chất mà không được tôn kính về trí tuệ và đạo hạnh. Ngược lại, nếu tu tập theo Pháp, từ bỏ tham dục, kiên trì, tinh tấn, các con sẽ được kính trọng, trí tuệ phát triển, tâm an lạc và hướng đến giải thoát”.

Ngài nhấn mạnh rằng các Tỷ-kheo xuất gia cần tuân thủ giới luật đầy đủ, sống phòng hộ với giới bổn, giữ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, lãnh thọ chánh xác và học tập các học giới. Các Tỷ-kheo có ước nguyện nhận y phục, đồ ăn, sàng tọa, dược phẩm, hay muốn nhớ lại các đời sống quá khứ, chứng thần thông, tứ thiền, hay quán sát tâm chúng sanh, đều phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh và sống tại trú xứ không tịnh.

Đức Thế Tôn dạy rằng, những người xuất gia cần tu tập như tấm vải thanh tịnh: nếu tâm trong sạch, không nhiễm cấu uế, sẽ dễ dàng thu nhận thiện pháp và sinh ra thiện nghiệp; còn nếu tâm nhiễm cấu uế, dù có tiếp xúc với pháp thiện, cũng không dẫn đến giải thoát. Cấu uế tâm bao gồm: tham dục, tà tham, sân, phẫn, hận, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, mạn, kiêu, phóng dật.

Tỷ-kheo nếu nhận biết các cấu uế này và biết đoạn trừ chúng, sẽ thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với:

  1. Phật – bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh đẳng giác, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ.
  2. Pháp – đúng như Thế Tôn đã thuyết giảng, thiết thực, hướng thượng, có thể chứng hiểu.
  3. Tăng – những đệ tử Thế Tôn, sống chánh hạnh, diệu hạnh, trực hạnh, chơn lý hạnh, đáng tôn kính, cung kính, cúng dường.

Nhờ lòng tin và tu tập giới luật, thân và tâm Tỷ-kheo được tịnh hóa, phát sinh hỷ, thân khinh an, cảm giác lạc thọ và tâm được Thiền định. Vị ấy có thể an trú khắp bốn phương với tâm từ, bi, hỷ, xả, rộng lớn, vô biên, không sân hận, không hận thù. Khi tâm hoàn toàn giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, vị ấy chứng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”. Vị ấy được gọi là Tỷ-kheo đã tắm rửa nội tâm.

Đức Thế Tôn ví dụ rằng, sông và giếng, dù có danh tiếng về khả năng rửa tội nghiệp, cũng không bằng việc tu tập thanh tịnh, tứ thiền, và diệt trừ cấu uế tâm. Chỉ những ai sống thanh tịnh, không hại chúng sanh, không nói dối, không tham lam, có lòng tín, mới thực sự “tắm rửa” tâm và đạt quả giải thoát.

Nhờ thực hành, một số Tỷ-kheo như Tôn giả Sundarika Bharadvaja, xuất gia với Thế Tôn, sống độc cư, tinh cần, chứng ngộ thượng trí, đạt vô thượng cứu cánh, trở thành A-la-hán, chứng triệt sinh tử, phạm hạnh hoàn tất, không còn trở lui trạng thái này.