Khi các Tỷ-kheo muốn nghe Thế Tôn thuyết pháp, Ngài đi đến vườn Lộc Uyển, nơi nhóm năm Tỷ-kheo đang tụ họp. Thế Tôn giải thích hai loại tầm cầu:
- Phi Thánh cầu: khi người còn chấp vợ con, tài sản, sắc, thọ, dục… vẫn tham đắm, mê say, tìm cầu những gì bản thân đã bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm. Đây là tầm cầu dẫn đến khổ và phiền não.
- Thánh cầu: khi đã thấy rõ nguy hại của sanh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm, tìm cầu cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không ô nhiễm, tức Niết-bàn, vô thượng an ổn.
Thế Tôn kể lại con đường xuất gia của Ngài: từ khi còn trẻ, mặc dù cha mẹ không bằng lòng, Ngài cạo bỏ râu tóc, xuất gia, đi tìm pháp tối thắng, từng học hỏi Alara Kalama, Uddaka Ramaputta, nhưng nhận thấy pháp của họ không hướng đến ly dục, ly ác bất thiện pháp, đoạn diệt và giải thoát, nên Ngài từ bỏ, tiếp tục tìm pháp chân chính.
Khi đến Uruvela, Thế Tôn chọn nơi tu tập lý tưởng: khóm rừng thoải mái, gần sông, có làng xung quanh dễ đi khất thực. Tại đây, Ngài thực hành thiền Tứ Niệm Xứ và các bậc thiền cao hơn:
- Thiền thứ nhất: hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ.
- Thiền thứ hai: hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ.
- Thiền thứ ba: xả niệm lạc trú, thân cảm lạc thọ.
- Thiền thứ tư: xả lạc xả khổ, thanh tịnh niệm, không khổ không lạc.
- Tiếp theo là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cho đến Diệt thọ tưởng, đoạn trừ lậu hoặc bằng trí tuệ.
Nhờ thực hành này, vị Tỷ-kheo được gọi là “đã làm Ác ma mù mắt, diệt trừ mọi vết tích, vượt khỏi tầm tay Ác ma”, an tâm đi đứng ngồi nằm, và vượt khỏi mọi triền phược, đạt giải thoát.
Tóm lại, bài kinh nhấn mạnh:
- Thánh cầu vs Phi Thánh cầu – Thánh cầu tìm Niết-bàn, Phi Thánh cầu vẫn bị dục vọng chi phối.
- Xuất gia và lựa chọn pháp tu đúng – từ bỏ pháp không dẫn đến giải thoát, kiên trì tìm pháp chân chính.
- Thực hành thiền định và trí tuệ – từ Tứ Niệm Xứ đến Diệt thọ tưởng, đoạn trừ lậu hoặc, vượt khỏi ác ma, đạt an ổn và giải thoát.
