
Mở đầu phẩm Hóa Thành Dụ, phẩm thứ bảy của kinh Pháp Hoa, Đức Phật kể lại câu chuyện về Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai (Mahābhijñājñānābhibhū), một vị cổ Phật đã xuất hiện và nhập diệt từ một thời quá khứ vô cùng xa xôi. Khoảng thời gian ấy xa đến mức không thể dùng năm tháng thông thường để đo lường, nên Đức Phật đã dùng một hình ảnh đặc biệt để gợi mở.
Giả sử có người đem cả thế giới tam thiên đại thiên nghiền thành mực. Người ấy đi về phương Đông, cứ trải qua một nghìn thế giới thì chấm xuống một điểm nhỏ, rồi lại đi thêm một nghìn thế giới nữa và chấm một điểm khác. Cứ như thế cho đến khi dùng hết số mực ấy. Sau đó, đem tất cả những thế giới đã đi qua, bất kể nơi nào có chấm mực hay không có chấm mực, nghiền nát thành bụi. Mỗi hạt bụi được tính là một kiếp. Thế nhưng, khoảng thời gian kể từ khi Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai diệt độ cho đến nay còn lâu xa hơn số kiếp được tính bằng tất cả những hạt bụi ấy đến vô lượng, vô biên, trăm nghìn muôn ức lần.
Chỉ riêng việc hình dung thí dụ này cũng đủ làm cho tư duy của chúng ta trở nên bất lực. Một căn phòng nhỏ có bao nhiêu hạt bụi, có lẽ đã chẳng ai có thể đếm hết. Một quả đất có bao nhiêu hạt bụi lại càng không thể biết. Huống hồ đem vô số thế giới nghiền thành vi trần rồi lấy mỗi hạt vi trần làm một đơn vị để tính thời gian. Con số ấy vượt khỏi khả năng tính toán và tưởng tượng thông thường của con người.
Nhưng có lẽ chính ở điểm này, điều Đức Phật muốn chỉ bày không còn nằm ở những con số.
Nếu cứ tiếp tục hỏi một kiếp dài bao nhiêu, một trăm kiếp dài bao nhiêu, hay vô lượng vi trần kiếp rốt cuộc là bao nhiêu năm, tâm chúng ta vẫn còn đang đứng trong thế giới của đo lường và phân biệt. Một, hai, trăm, nghìn, dài, ngắn, xa, gần đều là những khái niệm được tâm thức dựng lên để nhận biết thế giới.
Vậy nếu một lần thử đặt tất cả những con số ấy xuống thì sao?
Có lẽ hình ảnh vi trần kiếp chính là cách đưa tư duy đi đến tận cùng giới hạn của nó. Ta cố tưởng tượng một khoảng thời gian xa hơn nữa, xa hơn nữa, cho đến khi trí óc không còn khả năng hình dung. Và ngay nơi tư duy phải dừng lại ấy, một cánh cửa khác có thể mở ra.
→ Đó là cánh cửa của cái thấy không còn bị giới hạn bởi dài và ngắn, quá khứ và tương lai.
Bởi vậy, sau khi nói đến một thời gian xa xôi đến mức bất khả tư nghì, Đức Phật lại nói một điều tưởng như hoàn toàn trái ngược: với tri kiến của Như Lai, thời gian lâu xa ấy giống như chính ngày hôm nay.
Vô lượng kiếp mà như hôm nay – Quá khứ xa xôi mà như đang hiện tiền.
Điều này chỉ có thể hiểu sâu khi chúng ta tạm rời khỏi cách nhìn thời gian như một đường thẳng kéo dài từ quá khứ đến hiện tại rồi hướng về tương lai. Trong thực tại đang sống, chúng ta chưa từng sống ở ngày hôm qua, cũng chưa từng sống ở ngày mai. Khi ngày hôm qua xảy ra, nó đã từng là hiện tại. Khi ngày mai thật sự đến, nó cũng sẽ xuất hiện dưới hình thức của một hiện tại.
Thứ chúng ta thực sự có mặt chỉ là bây giờ và ở đây.
Ngay trong cái bây giờ ấy, mọi pháp đang sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, tương tục không ngừng. Một ý niệm vừa khởi lên rồi mất đi đã có thể xem như một lần sinh diệt. Một cảm thọ đến rồi đi cũng vậy. Một nhịp tim, một hơi thở, một cái chớp mắt đều đang nói lên sự vận hành không ngừng của vô thường.
Nhìn theo chiều ấy, mỗi hạt bụi cũng là một kiếp.
Và khi một hạt bụi đã có thể chứa cả ý nghĩa của một kiếp sinh diệt, cái cực nhỏ không còn nhất thiết đối lập với cái cực lớn. Một sát-na và vô lượng kiếp có thể gặp nhau ngay nơi thực tại hiện tiền.
Từ chỗ ấy, chúng ta có thể bước gần hơn vào câu chuyện Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai.
Kinh kể rằng Đức Đại Thông Trí Thắng ở nước Hảo Thành, thọ mạng dài đến năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp. Khi Ngài ngồi nơi đạo tràng, đã phá ma quân và sắp thành tựu Vô thượng Chánh giác, nhưng Phật pháp vẫn chưa hiện tiền.
Chư thiên cõi Đao-lợi vì kính ngưỡng đã trải một tòa sư tử cao một dặm dưới cội bồ-đề để cúng dường. Đức Đại Thông Trí Thắng ngồi trên tòa ấy. Chư thiên tấu nhạc trời, các vị Phạm thiên rải hoa cúng dường. Gió thơm thỉnh thoảng thổi đến cuốn những hoa đã héo đi, rồi hoa mới lại được rải xuống.
Một ngày trôi qua, một năm trôi qua…
Rồi không phải một năm, mười năm hay một trăm năm, mà suốt mười tiểu kiếp, Ngài vẫn ngồi nơi đạo tràng.
Chư thiên vẫn cúng dường. Hoa trời vẫn rơi. Thời gian cứ thế trôi qua…
Mãi đến sau mười tiểu kiếp, Phật pháp mới hiện tiền và Đức Đại Thông Trí Thắng thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nếu chỉ đọc theo mặt chữ, câu chuyện đã đủ kỳ lạ. Một vị sắp thành Phật lại phải ngồi đến mười tiểu kiếp mà Phật pháp vẫn chưa xuất hiện. Nhưng chính điểm tưởng như khó hiểu ấy về sau lại trở thành một công án nổi tiếng của Thiền tông.
Hơn một nghìn năm sau, Thiền sư Vô Môn Huệ Khai (1183–1260) đưa câu chuyện này vào Vô Môn Quan, tức “Ải không cửa”.
Có một vị Tăng đến hỏi Hòa thượng:
– Đức Đại Thông Trí Thắng ngồi nơi đạo tràng suốt mười kiếp mà Phật pháp không hiện tiền. Vì sao như vậy?
Hòa thượng đáp:
– Câu hỏi của ông đã là câu trả lời rồi.
Vị Tăng vẫn chưa hiểu, lại hỏi:
– Ngài đã ngồi ở đạo tràng, tại sao vẫn không thành Phật?
Hòa thượng đáp:
– Vì Ngài không thành Phật.
Câu trả lời nghe qua dường như càng khiến người ta khó hiểu hơn.
Ngồi đạo tràng mà không thành Phật. Không thành Phật bởi vì… không cần thành Phật.

Nếu tiếp tục dùng suy luận để tháo gỡ, công án lại trở thành một nút thắt khác của tư duy. Nhưng Thiền không nhất thiết muốn người học tìm thêm một đáp án bằng khái niệm. Công án đẩy người ta đến chỗ phải quay lại nhìn chính cái tâm đang đặt câu hỏi.
Tên gọi Đại Thông Trí Thắng đã biểu thị trí tuệ rộng lớn, thông đạt các pháp. Ngồi nơi Bồ-đề đạo tràng tức là ở ngay nơi giác ngộ. Nếu bản tính giác vốn chưa từng thiếu, vậy còn có một cái gì khác từ bên ngoài đi vào để làm cho nó trở thành Phật?
Nếu đã là vàng thì không cần làm cho vàng trở thành vàng.
Mây có thể che mặt trời, nhưng mây không biến mặt trời thành bóng tối. Khi mây tan, cũng chẳng phải lúc ấy mặt trời mới được sinh ra.
Theo cách gợi mở của Thiền, giác ngộ cũng vậy. Điều cần thiết không hẳn là tạo ra thêm một bản tâm thanh tịnh chưa từng có, mà là nhận lại điều vốn chưa từng mất.
Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có nhận ra hay không.
Bởi vậy, lời đáp “Vì Ngài không thành Phật” có thể được nghe như một nhát kiếm chặt đứt ý niệm rằng có một “ta” đang từ chỗ này đi đến một nơi khác để “trở thành” một cái gì đó gọi là Phật. Còn thấy một người cần thành và một quả vị để được thành, tâm vẫn có thể đang mắc kẹt trong hai đầu năng và sở, mê và ngộ, phàm và thánh.
Vô Môn kết lại công án bằng bài kệ:
“Liễu thân hà tự liễu tâm hưu,
Liễu đắc tâm hề thân bất sầu.
Nhược dã thân tâm câu liễu liễu,
Thần tiên hà tất cánh phong hầu.”
Có thể hiểu theo ý rằng: biết rõ thân vẫn chưa bằng thấu rõ tâm; khi tâm đã sáng thì những hệ lụy nơi thân không còn dễ dàng trói buộc. Khi thân và tâm đều được soi thấu, người đã tự tại rồi thì còn cần tìm cầu thêm danh vị nào nữa?
Đến đây, câu chuyện vi trần kiếp ban đầu dường như lại trở về.
Chúng ta thường nghĩ phải đi rất xa mới gặp được chân lý. Phải trải qua thật nhiều năm, đọc thật nhiều kinh sách, tìm đến thật nhiều nơi, tích lũy thật nhiều điều rồi một ngày nào đó mới có thể chạm đến giác ngộ.
Nhưng càng chạy đi tìm, đôi khi lại càng xa. Bởi cái đang đi tìm cũng chính là cái cần được nhìn lại.
Một hạt bụi nằm trên bàn rất nhỏ. Một đời người giữa dòng thời gian vô tận cũng nhỏ bé như thế. Nhưng ngay trong một hạt bụi đã có đủ nhân duyên của đất trời; ngay trong một sát-na cũng có đủ sinh và diệt; ngay trong một niệm có thể là mê mà cũng có thể là ngộ.
Vậy nên, đâu cần đợi đến lúc trở về cát bụi mới hiểu vô thường. Cuộc sống này vốn đã là cát bụi.
Thân này đang đổi thay từng ngày. Một tế bào sinh rồi diệt, một hơi thở vào rồi ra, một ý niệm vừa xuất hiện đã trở thành quá khứ. Những gì ta gọi là “một đời” thực ra được kết thành từ vô số sát-na sinh diệt như vô số hạt bụi tụ lại.
Trong vô lượng vi trần ấy, điều đáng quan tâm không còn là chúng ta đã sống được bao nhiêu năm, mà là có thực sự tỉnh thức trong khoảnh khắc đang sống hay không.
Bởi một người có thể sống trăm năm mà phần lớn thời gian tâm vẫn lang thang trong những điều đã mất và những chuyện chưa đến. Ngược lại, chỉ một sát-na nhìn thẳng được chính mình cũng có thể mở ra một khoảng trời chưa từng thấy.
Sinh và tử nằm ngay trong đó – Mê và ngộ cũng nằm ngay trong đó.
Phàm và thánh, xa và gần, một sát-na và vô lượng kiếp, cuối cùng đều gặp nhau nơi thực tại hiện tiền.
Đức Đại Thông Trí Thắng của vô lượng vi trần kiếp trước vì thế không nhất thiết chỉ là một câu chuyện để chúng ta phóng tâm tìm về quá khứ xa xôi. Câu chuyện ấy cũng có thể là một lời gọi quay về. Quay về nhìn người đang nghe, người đang thấy, người đang suy nghĩ và người đang miệt mài đi tìm giác ngộ.
Có khi “mười kiếp ngồi đạo tràng” vẫn còn là chuyện của thời gian.
Nhưng một niệm thực sự tỉnh thức thì thời gian ở đâu?
Một hạt bụi tuy nhỏ, nhưng trong cái nhìn vượt khỏi phân biệt, nhỏ và lớn không còn ngăn ngại nhau. Một sát-na tuy ngắn, nhưng nếu hoàn toàn có mặt thì quá khứ và tương lai đều trở về ngay trong đó.
Và có lẽ vì vậy mà với tri kiến Như Lai, khoảng thời gian xa xôi đến vô lượng vi trần kiếp vẫn “giống như ngày hôm nay.”
Rốt cuộc, không cần chờ đến ngày thân này trở về với bụi đất mới thấy mình là cát bụi. Ngay giữa một đời đang sống, từng niệm đã sinh diệt, từng hơi thở đã đến đi, từng sát-na đã không ngừng đổi khác.
Một hạt bụi là một kiếp. Một niệm cũng là một kiếp. Và ngay trong một niệm ấy, mê hay ngộ, trầm luân hay tỉnh thức, xa xôi hay trở về – tất cả đều có thể bắt đầu.
Soạn giả: Thích Minh Bảo
