TRUNG BỘ KINH SỐ 60 – KINH KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG

Một thời, Thế Tôn du hành tại làng Sala thuộc vùng Kosala, và các Bà-la-môn gia chủ nơi đây nghe danh Ngài là A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải. Họ đến đảnh lễ, tỏ lòng cung kính và xin Thế Tôn dạy pháp để thực hành, nhờ đó được an lạc lâu dài.

Thế Tôn giảng về bốn hạng người:

  1. Người tự hành khổ mình: tự ép xác, chịu khổ thân, ăn uống kham khổ, mặc y thô, ngủ trên giường gai, tắm lạnh… sống theo hạnh khổ thân.
  2. Người hành khổ người: gây khổ cho người khác, ví dụ đồ tể, thợ săn, cai ngục, làm nghề ác độc.
  3. Người vừa tự hành khổ mình vừa hành khổ người: ví dụ vua, Bà-la-môn triệu phú, vừa chịu khổ thân vừa bắt người khác chịu khổ để thực hành lễ tế.
  4. Người không tự hành khổ mình, không hành khổ người: không tham dục, không sân hận, tịch tịnh, cảm giác mát lạnh, lạc thọ, trú vào Phạm thể; sống an lạc, giải thoát ngay hiện tại.

Thế Tôn hướng dẫn rằng người tu tập phải từ bỏ năm triền cái: dục, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi ngờ; đồng thời thực hành chánh niệm, hộ trì sáu căn, tiết độ ăn uống, từ bỏ các hành ác, sống đời thanh tịnh, không làm hại chúng sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói láo hay hai lưỡi, nói lời hòa hợp, từ bi.

Người tu tập này tiến hành bốn thiền:

  1. Thiền thứ nhất: hỷ lạc do ly dục sinh.
  2. Thiền thứ hai: hỷ lạc do định sinh, nội tĩnh nhất tâm.
  3. Thiền thứ ba: xả niệm lạc trú, thân cảm lạc thọ.
  4. Thiền thứ tư: xả lạc xả khổ, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Nhờ tu tập, vị ấy nhớ lại các đời sống quá khứ, thấy nghiệp quả của chúng sanh, phân biệt ai tạo thiện, ai tạo ác, và chứng lậu tận, giải thoát, với tâm an trú, không còn tái sanh: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lại đời sống này”.

Cuối cùng, các Bà-la-môn gia chủ Sala nhận thức sự vi diệu của Chánh pháp, so sánh như người dựng lại những gì bị ngã, soi sáng bóng tối cho kẻ lạc hướng, và xin quy y Thế Tôn, Pháp, Tăng, làm cư sĩ trọn đời.

Ý chính tóm tắt:

  1. Bốn hạng người: tự hành khổ mình; hành khổ người; vừa tự hành vừa hành khổ người; không hành khổ mình và người → đạt an lạc.
  2. Tu tập vị Thánh đệ tử: từ bỏ năm triền cái, hộ trì sáu căn, sống thanh tịnh, không làm ác, sống hòa hợp và từ bi.
  3. Bốn thiền: từ hỷ lạc do ly dục đến xả niệm thanh tịnh → phát triển an lạc và giác ngộ.
  4. Nhớ quá khứ, thấy nghiệp quả: nhận thức rõ Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Con đường diệt Khổ, lậu hoặc và đoạn trừ.
  5. Kết quả: vị ấy giải thoát, an trú, không còn tái sanh, cư sĩ học theo pháp của Thế Tôn để sống đời an lạc và thanh tịnh.