Đức Phật dạy rằng chánh kiến đi hàng đầu. Chánh kiến giúp hành giả nhận biết đâu là tà và đâu là chánh, từ đó định hướng cho toàn bộ con đường tu tập. Chánh kiến được nói đến ở hai mức: hữu lậu, đưa đến phước báo; và vô lậu, siêu thế, thuộc Thánh đạo.
Từ chánh kiến, hành giả tiếp tục phát triển chánh tư duy bằng cách từ bỏ dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy; hướng tâm đến ly dục, vô sân và bất hại. Đồng thời, chánh tinh tấn và chánh niệm luôn hỗ trợ việc từ bỏ tà pháp và an trú trong chánh pháp.
Đối với đời sống hằng ngày, hành giả thực hành chánh ngữ bằng cách từ bỏ nói dối, nói hai lưỡi, ác khẩu và lời phù phiếm; thực hành chánh nghiệp bằng cách từ bỏ sát sanh, lấy của không cho và tà hạnh; thực hành chánh mạng bằng cách từ bỏ những phương thức sinh sống gian trá, lừa đảo và bất chánh.
Đức Phật tiếp tục trình bày Đại pháp môn Bốn mươi. Chánh kiến dẫn đến chánh tư duy, rồi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Từ chánh định phát sinh chánh trí, và từ chánh trí đi đến chánh giải thoát. Vì vậy, đạo lộ của vị hữu học gồm tám chi phần, còn đạo lộ của vị A-la-hán được trình bày với mười chi phần, thêm chánh trí và chánh giải thoát.
Mỗi chánh pháp có công năng đoạn trừ tà pháp tương ứng: chánh kiến diệt tà kiến, chánh tư duy diệt tà tư duy, chánh ngữ diệt tà ngữ… cho đến chánh trí và chánh giải thoát. Khi tà pháp được đoạn trừ thì các thiện pháp được phát triển và đi đến viên mãn.
Tóm lại, bài kinh nhấn mạnh:
- Chánh kiến đi hàng đầu, định hướng toàn bộ con đường tu tập.
- Bảy chi phần từ chánh kiến đến chánh niệm là những yếu tố hỗ trợ cho Thánh chánh định.
- Mỗi chánh pháp có nhiệm vụ đoạn trừ tà pháp tương ứng và làm tăng trưởng thiện pháp.
- Bát Chánh Đạo không phải những phần riêng rẽ mà liên hệ và nâng đỡ lẫn nhau.
- Từ chánh định phát sinh chánh trí, từ chánh trí đưa đến chánh giải thoát.
