Đức Phật giải thích rằng người còn đắm chìm trong dục lạc, bị tham ái và vô minh che lấp thì khó có thể hiểu được những cảnh giới chỉ có sự ly dục mới chứng đạt. Ngài đưa ra hình ảnh những con vật đã được điều phục và chưa được điều phục, cùng ví dụ hai người đứng dưới chân núi và trên đỉnh núi. Người đứng dưới chân núi không thể thấy được cảnh vật mà người trên đỉnh núi nhìn thấy. Cũng vậy, người chưa thực hành và chứng nghiệm thì khó thấu hiểu những điều vượt ngoài nhận thức hiện tại của mình.
Tiếp đó, Đức Phật sử dụng hình ảnh người điều phục voi rừng để minh họa tiến trình giáo dục và tu tập của một vị Tỷ-kheo. Cũng như voi rừng phải trải qua nhiều giai đoạn huấn luyện mới trở thành con voi thuần thục, người xuất gia cần được rèn luyện từng bước để chuyển hóa những tập khí và tham ái của đời sống thế tục.
Trước hết, người nghe Chánh pháp phát khởi lòng tin nơi Như Lai, từ bỏ đời sống gia đình để xuất gia. Sau đó, vị ấy được hướng dẫn giữ gìn giới luật, hộ trì sáu căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác và thực hành chánh niệm tỉnh giác trong mọi sinh hoạt hằng ngày. Đây là những nền tảng giúp hành giả từng bước làm chủ thân tâm.
Khi những nền tảng ấy được thiết lập, hành giả tìm đến nơi thanh vắng, chuyên tâm tu tập và đoạn trừ năm triền cái gồm tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá và nghi ngờ. Tiếp đó, vị ấy thực hành Tứ niệm xứ, quán thân, thọ, tâm và pháp để điều phục những tập khí, hướng tâm đến sự an định và giải thoát.
Đức Phật tiếp tục hướng dẫn hành giả phát triển thiền định, lần lượt chứng đạt bốn bậc Thiền, khiến tâm trở nên thanh tịnh, vững chắc và nhu nhuyến. Trên nền tảng định tâm ấy, hành giả phát triển Túc mạng trí, nhớ lại những đời sống quá khứ; Sanh tử trí, thấy rõ sự tái sinh của chúng sinh tùy theo nghiệp; và Lậu tận trí, nhận biết như thật Tứ Thánh đế cùng sự sinh khởi, đoạn diệt của các lậu hoặc.
Nhờ trí tuệ thấy biết như thật, hành giả đoạn trừ dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, chứng đạt giải thoát hoàn toàn, tự biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm.” Khi ấy, vị ấy trở thành người đã được điều phục, có khả năng kham nhẫn những khó khăn và xứng đáng là ruộng phước vô thượng ở đời.
Cuối cùng, Đức Phật khẳng định rằng giá trị của người tu không nằm ở tuổi đời hay thời gian xuất gia, mà ở sự điều phục và đoạn tận các lậu hoặc. Dù là Tỷ-kheo trẻ, trung niên hay trưởng lão, nếu chưa đoạn tận lậu hoặc thì vẫn chưa được điều phục hoàn toàn; ngược lại, người đã đoạn tận lậu hoặc mới thật sự thành tựu mục đích của đời sống phạm hạnh.
Tóm lại, bài kinh nhấn mạnh:
-
Người còn bị dục lạc và vô minh che lấp khó nhận biết những pháp chỉ có thể chứng đạt nhờ ly dục.
-
Tu tập là một tiến trình điều phục thân tâm, cần được thực hiện tuần tự và bền bỉ.
-
Nền tảng của đời sống xuất gia là giữ giới, hộ trì các căn, tiết độ ăn uống, tinh cần và chánh niệm tỉnh giác.
-
Đoạn trừ năm triền cái, thực hành Tứ niệm xứ và phát triển bốn bậc Thiền là những bước quan trọng trên con đường tu tập.
-
Từ định tâm thanh tịnh, hành giả phát triển Túc mạng trí, Sanh tử trí và Lậu tận trí.
-
Cứu cánh của sự tu tập là đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
-
Người tu chân chính được đánh giá bằng sự chuyển hóa và giải thoát, không phải bởi tuổi tác hay số năm xuất gia.
Tinh thần cốt lõi của bài kinh là: cũng như voi rừng cần được huấn luyện để trở nên thuần thục, người học Phật phải kiên trì điều phục thân tâm, từ bỏ tham ái, phát triển giới, định, tuệ để đi đến giải thoát hoàn toàn.
