TRUNG BỘ KINH SỐ 86 – KINH ANGULIMÀLA

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại tinh xá Kỳ Viên ở thành Xá-vệ. Lúc bấy giờ, trong nước Kosala xuất hiện tên cướp khét tiếng Angulimāla. Hắn là một kẻ sát nhân tàn bạo, giết hại rất nhiều người và xâu các ngón tay của nạn nhân thành một chuỗi đeo trên cổ. Vì sự hung ác của hắn, nhiều làng mạc và thị trấn trở nên hoang vắng, không ai dám đi lại.

Một hôm, Đức Phật một mình đi trên con đường dẫn đến nơi Angulimāla đang ẩn náu. Dù nhiều người chăn bò, người đi đường và dân chúng hết sức can ngăn vì sợ Ngài gặp nguy hiểm, Đức Phật vẫn bình thản tiếp tục bước đi. Thấy Đức Phật đi đến, Angulimāla cầm kiếm và cung tên đuổi theo với ý định sát hại. Tuy nhiên, dù chạy hết sức, hắn vẫn không thể bắt kịp Đức Phật đang bước đi thong thả. Quá kinh ngạc, hắn lớn tiếng bảo Đức Phật dừng lại.

Đức Phật đáp rằng: “Ta đã đứng rồi, còn ngươi hãy đứng lại.” Angulimāla không hiểu ý nghĩa câu nói nên thưa hỏi. Đức Phật giải thích rằng Ngài đã dừng mọi hành động sát hại, từ bỏ bạo lực và sống với lòng từ bi, còn Angulimāla tuy thân đứng lại nhưng tâm vẫn chạy theo tham, sân và tội ác nên thật sự chưa dừng lại. Những lời dạy ấy làm Angulimāla bừng tỉnh, nhận ra lỗi lầm của mình. Ngay tại chỗ, hắn quăng bỏ vũ khí, đảnh lễ Đức Phật và xin được xuất gia. Đức Phật chấp nhận bằng lời: “Hãy đến đây, Tỳ-kheo.”

Sau khi xuất gia, Tôn giả Angulimāla theo Đức Phật trở về Xá-vệ. Trong khi đó, vua Pasenadi nước Kosala đang chuẩn bị đem quân đi truy bắt tên cướp vì dân chúng liên tục kêu cứu. Khi đến yết kiến Đức Phật, nhà vua được hỏi rằng nếu Angulimāla đã từ bỏ đời sống tội lỗi, trở thành một vị Tỳ-kheo giữ giới thanh tịnh thì sẽ đối xử thế nào. Nhà vua đáp rằng sẽ kính trọng và cúng dường như mọi vị Sa-môn khác. Đức Phật liền chỉ vị Tỳ-kheo đang ngồi gần đó và cho biết chính là Angulimāla. Ban đầu vua vô cùng kinh ngạc và sợ hãi, nhưng sau khi thấy vị Tỳ-kheo hiền hòa, thanh tịnh, nhà vua hết lòng kính phục. Ông ca ngợi Đức Phật đã cảm hóa được một người mà binh lực và vũ khí không thể khuất phục.

Một hôm, trong lúc đi khất thực, Tôn giả Angulimāla gặp một người phụ nữ đang chuyển dạ rất đau đớn và nguy hiểm. Trở về, ngài bạch lại với Đức Phật. Đức Phật dạy ngài đến an ủi người phụ nữ bằng một lời chân thật. Ban đầu Angulimāla ngần ngại vì trước kia mình đã từng sát hại rất nhiều người. Đức Phật liền dạy hãy nói: “Từ khi được Thánh sanh đến nay, tôi chưa từng cố ý giết hại một chúng sanh nào.” Với sự thật ấy, người phụ nữ được bình an và sinh con thuận lợi. Từ đó, bài kinh hộ niệm này trở thành Kinh Angulimāla, thường được tụng để cầu chúc sự bình an cho sản phụ.

Sau một thời gian chuyên tâm tu tập, sống độc cư và tinh tấn, Tôn giả Angulimāla chứng đắc quả vị A-la-hán, chấm dứt hoàn toàn mọi lậu hoặc. Tuy nhiên, khi đi khất thực, nhiều người vẫn nhận ra ông là tên cướp năm xưa nên ném đá, gậy và đất làm đầu ngài chảy máu, y rách và bình bát bị vỡ. Trở về gặp Đức Phật, ngài được dạy hãy kiên nhẫn chịu đựng, vì những đau khổ ấy chỉ là quả báo nhẹ của những nghiệp ác trong quá khứ; nếu không xuất gia và tu tập, những nghiệp ấy sẽ đưa đến quả báo vô cùng nặng nề trong địa ngục.

Cuối bài kinh, Tôn giả Angulimāla đọc những bài kệ cảm thán về sự chuyển hóa của chính mình. Ngài khẳng định rằng người từng sống buông lung nhưng biết quay về với Chánh pháp vẫn có thể tỏa sáng như vầng trăng thoát khỏi mây đen. Từ một kẻ giết người khét tiếng, nhờ gặp Đức Phật và chân thành sám hối, ngài đã trở thành bậc Thánh, đoạn tận sinh tử và hoàn thành con đường giải thoát. Bài kinh nhấn mạnh sức mạnh của lòng từ bi, khả năng chuyển hóa của Chánh pháp và khẳng định rằng không ai bị định sẵn bởi quá khứ nếu biết thành tâm sửa đổi và tinh tấn tu hành.

Để lại một bình luận