Một thời, Đức Thế Tôn trú tại rừng Bhesakalā, thuộc xứ Bhagga. Vương tử Bodhi vừa xây dựng xong lâu đài Kokanada nên sai người đến cung thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến thọ trai. Khi Đức Phật đến, vương tử cho trải một tấm vải trắng từ chân cầu thang lên tận lầu và nhiều lần thỉnh Đức Phật bước lên tấm vải để cầu phúc. Tuy nhiên, Đức Phật không bước lên. Theo lời nhắc của Tôn giả A-nan, vương tử cho cuộn tấm vải lại vì Như Lai luôn nghĩ đến mọi người, kể cả những người thấp kém, nên không chấp nhận sự tôn kính mang tính phân biệt ấy. Sau khi cúng dường trai phạn, vương tử Bodhi thưa với Đức Phật rằng mình tin hạnh phúc chỉ có thể đạt được bằng sự chịu đựng khổ hạnh.
Đức Phật nhân đó kể lại quá trình tìm đạo của chính mình trước khi thành đạo. Sau khi xuất gia, Ngài lần lượt đến học với đạo sư Alāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta. Chỉ trong thời gian ngắn, Ngài chứng đắc những tầng thiền và cảnh giới cao nhất mà hai vị đạo sư đạt được, được họ mời cùng lãnh đạo hội chúng. Tuy nhiên, Đức Phật nhận ra những pháp ấy chỉ đưa đến các cảnh giới thiền định cao, chưa dẫn đến đoạn tận tham ái, giác ngộ và Niết-bàn, nên Ngài tiếp tục ra đi tìm con đường giải thoát chân thật.
Đến rừng Uruvelā, Đức Phật quyết tâm thực hành khổ hạnh cực đoan. Ngài nín thở, ép xác, giảm ăn đến mức thân thể chỉ còn da bọc xương, chịu đựng những đau đớn cùng cực. Dù tinh tấn không ngừng, Ngài vẫn không chứng được trí tuệ giải thoát. Từ kinh nghiệm ấy, Ngài quán sát và nhận ra rằng khổ hạnh cực đoan cũng không phải là con đường đưa đến giác ngộ.
Đức Phật đưa ra ba ví dụ về khúc gỗ để giải thích điều này. Khúc gỗ còn ướt nằm trong nước không thể tạo ra lửa, cũng như người còn chìm đắm trong dục vọng thì không thể giác ngộ. Khúc gỗ được đưa lên bờ nhưng vẫn còn ướt cũng không thể cháy, giống như người tuy sống xa dục nhưng trong tâm vẫn còn tham ái. Chỉ khi khúc gỗ khô ráo hoàn toàn mới có thể phát lửa; cũng vậy, chỉ người đã đoạn trừ tham dục cả thân lẫn tâm mới có thể chứng đắc Chánh giác.
Sau thời gian dài khổ hạnh không thành công, Đức Phật nhớ lại kinh nghiệm chứng thiền khi còn nhỏ dưới gốc cây Diêm-phù lúc theo vua cha đi cày. Ngài nhận ra rằng trạng thái an lạc thanh tịnh ấy mới là con đường đúng đắn dẫn đến giác ngộ. Vì vậy, Ngài từ bỏ lối tu ép xác, ăn uống điều độ để phục hồi sức khỏe. Năm vị đồng tu thấy vậy tưởng Ngài đã thối chí nên bỏ đi.
Sau khi thân thể hồi phục, Đức Phật lần lượt chứng đắc bốn tầng thiền. Từ nền tảng thiền định ấy, trong đêm thành đạo, Ngài chứng ba minh: nhớ rõ vô số đời sống quá khứ, thấy rõ sự tái sinh của chúng sanh theo nghiệp và cuối cùng đoạn tận mọi lậu hoặc, chứng ngộ Tứ Thánh Đế, thành tựu quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác.
Sau khi giác ngộ, Đức Phật suy nghĩ rằng giáo pháp mình chứng ngộ quá sâu xa, vi diệu, khó hiểu đối với những người còn say đắm dục lạc nên Ngài ngần ngại không muốn thuyết pháp. Khi ấy, Phạm thiên Sahampati hiện đến khẩn cầu Đức Phật vì vẫn còn nhiều chúng sanh ít bụi trần trong mắt, có khả năng hiểu và thực hành Chánh pháp. Do lòng từ bi, Đức Phật dùng Phật nhãn quán sát thế gian, thấy căn cơ của chúng sanh không đồng nhau như những hoa sen có bông còn chìm dưới nước, có bông ngang mặt nước và có bông vươn lên khỏi mặt nước. Nhận thấy vẫn có nhiều người có thể giác ngộ, Ngài quyết định chuyển bánh xe Chánh pháp.
Đức Phật dự định thuyết pháp trước tiên cho hai vị thầy cũ nhưng biết họ đều đã qua đời. Vì vậy, Ngài đến vườn Lộc Uyển tại Isipatana để gặp năm vị đồng tu trước đây. Ban đầu, năm vị không tin Ngài đã giác ngộ vì cho rằng Ngài đã từ bỏ khổ hạnh. Sau khi Đức Phật nhiều lần khẳng định mình đã chứng ngộ Vô thượng Chánh giác, họ lắng nghe giáo pháp và nhờ thực hành theo lời dạy, cả năm đều lần lượt chứng đắc Thánh quả.
Cuối bài kinh, Đức Phật dạy vương tử Bodhi rằng người muốn đạt mục đích tối hậu của đời sống xuất gia cần đầy đủ năm yếu tố tinh tấn: có lòng tin nơi Đức Phật, có sức khỏe thích hợp để tu tập, sống chân thật không gian dối, tinh cần đoạn ác tu thiện và có trí tuệ quán sát sự sinh diệt của các pháp. Người hội đủ năm phẩm chất này, nếu nỗ lực thực hành đúng Chánh pháp, có thể nhanh chóng chứng ngộ giải thoát, thậm chí chỉ trong thời gian rất ngắn.
Nghe xong bài pháp, vương tử Bodhi vô cùng hoan hỷ, bày tỏ lòng kính tin sâu sắc và một lần nữa phát nguyện quy y Phật, Pháp và Tăng, nguyện trọn đời nương tựa Tam bảo.
