TRUNG BỘ KINH SỐ 43 – ĐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG

Trong một buổi chiều tại Jetavana, Savatthi, Tôn giả Maha Kotthita hỏi Tôn giả Sariputta về liệt tuệ, trí tuệ, thức, cảm thọ và tưởng. Sariputta giải thích:

  1. Liệt tuệ và trí tuệ:
    • Liệt tuệ là không tuệ tri Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Con đường đưa đến Khổ diệt.
    • Trí tuệ là có tuệ tri Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Con đường đưa đến Khổ diệt.
    • Trí tuệ và thức kết hợp, không tách rời; trí tuệ phải được tu tập, thức phải được liễu tri.
  2. Cảm thọ (vedanā) và tưởng (saññā):
    • Cảm thọ gồm lạc, khổ, bất khổ bất lạc, tưởng cũng tương tự, cả hai kết hợp, không tách rời.
  3. Thiền định và tâm giải thoát:
    • Từ Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư, Tỷ-kheo đoạn trừ tham, sân, si, hôn trầm, trạo cử, nghi, an trú hỷ, lạc, tầm, tứ và nhất tâm.
    • Tâm giải thoát bất khổ bất lạc, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát, vô tướng tâm giải thoát được chứng nhờ đoạn trừ lậu hoặc.
    • Khi lậu hoặc (tham, sân, si) bị chặt tận gốc, không còn tái sanh trong tương lai, tâm đạt trạng thái bất động, tối thượng.
  4. Các pháp môn và sự sai khác:
    • Có một pháp môn làm các pháp đồng nghĩa về nghĩa nhưng sai biệt về danh.
    • Bậc Tỷ-kheo an trú biến mãn bốn phương với tâm từ, bi, hỷ, xả, vô biên, không hận, không sân, là pháp môn dẫn đến giải thoát hoàn toàn.

Tôn giả Maha Kotthita sau khi nghe lời Sariputta hoan hỷ, tín thọ, nhận thức rõ sự liên hệ giữa trí tuệ, thức, thiền định và tâm giải thoát.

Ý chính tóm tắt:

  1. Trí tuệ vs Liệt tuệ: có tuệ tri Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Con đường đưa đến Khổ diệt → trí tuệ; không tuệ tri → liệt tuệ.
  2. Thức, cảm thọ, tưởng: kết hợp với trí tuệ, phải liễu tri để tu tập chánh pháp.
  3. Thiền và tâm giải thoát: đoạn trừ lậu hoặc, an trú hỷ, lạc, tầm, tứ, nhất tâm → tâm giải thoát tối thượng.
  4. Vô lượng, vô sở hữu, vô tướng tâm giải thoát: đoạn trừ tham, sân, si tận gốc → không còn tái sanh.
  5. An trú bốn phương với bốn tâm cao thượng: từ, bi, hỷ, xả → đạt giải thoát toàn diện.