PHÁP CÚ GIẢNG GIẢI – CÂU 1, 2

Tại thành Xá-vệ, có một vị Tỳ-kheo tên là Cakkhupāla, nổi tiếng về hạnh tinh tấn. Ngài phát nguyện suốt đời không nằm nghỉ, chỉ đi, đứng và ngồi để tu tập thiền định. Với chí nguyện bền bỉ như thế, đôi mắt Ngài dần dần mù lòa, nhưng không vì thế mà thoái tâm. Ngài vẫn kiên trì hành trì, cuối cùng chứng đắc quả A-la-hán, thành tựu tuệ nhãn vô lậu. Thấy vậy, nhiều vị Tỳ-kheo và cư sĩ lấy làm lạ, bàn rằng: “Một người mù, làm sao lại có thể chứng quả thánh?” Đức Phật nghe được, liền dạy bài kệ mở đầu Kinh Pháp Cú:

“Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

Nếu với ý ô nhiễm,

Nói lên hay hành động,

Khổ não bước theo sau,

Như xe, chân vật kéo.”

Tại sao Đức Phật lại nói trong tất cả các Pháp thế gian hay xuất thế gian thì “Tâm” lại dẫn đầu, “Tâm” làm chủ và “Tâm” tạo tác.

Qua lời kệ này, Đức Phật chỉ rõ rằng: tâm ý là gốc của tất cả. Chính tâm dẫn dắt lời nói, hành động, và tạo thành nghiệp. Nếu tâm ô nhiễm, thì dù làm gì, khổ đau cũng theo sau. Nhưng nếu tâm được thanh tịnh, thì hạnh phúc, an lạc và giải thoát sẽ hiện bày. Như Trưởng lão Cakkhupāla, dẫu mất đi đôi mắt phàm tục, nhưng nhờ tinh tấn, giữ giới, và chánh niệm, mà thành tựu con mắt trí tuệ, thấy rõ chân lý giải thoát – Tuy mất mà chẳng mất, bởi mất chỉ là đổi thay; tuy không mà chẳng không, bởi không chính là duyên sinh để có.

Trong Kinh Tăng Chi Bộ, chương VI, phẩm VI, kinh số 63, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý” Tại sao? Khi chúng ta quán chiếu lại sự bắt đầu của một hành động, một lời nói hay một sự tạo tác nào đó đều do Ý mà ra. Thân, Khẩu và Ý nương nhau và bổ trợ cho nhau hình thành, khi Ý vừa khởi lên thì miệng phát ra lời nói và thân này hoạt động. Nên Đức Phật nói Tâm làm chủ và Tâm là nhân của mọi quả.

Chúng ta phải làm chủ ông chủ trong người mình, vì tu Thân, tu Khẩu, tu Tâm thì cũng đồng tu, nhưng cứu cánh của việc tu hành là tu Tâm, nếu đem Tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hay hành động thì nói những lời xấu, hành động tội lỗi. Nếu gây nhân xấu, nhân đen tối, nhân nhiễm ô thì quả của nó cũng xấu, quả đen tối, quả ô nhiễm “Dục tri tiền thế nhân kim sanh thọ giả thị, dục tri lai thế quả kim sanh tác giả thị” muốn biết nhân đời trước hãy nhìn vào những gì phải hưởng trong đời này; muốn biết quả trong đời sau, hãy nhìn vào những gì đang làm trong đời này.

Họa phước không cửa mà tự đến, chỉ do con người tụ chuốc lấy. Thiện báo hay ác báo như bóng với hình, như bánh xe lăn theo chân vật kéo con bò hay con ngựa kéo xe, khi chân bước đến đâu thì bánh xe lăn theo gót không rời. Cũng vậy, nếu người tạo nghiệp khổ, nghiệp xấu xa thì đến đâu, nghiệp cũng theo bánh xe mà bén gót đến. Do vậy, chúng ta cứ vui theo mạng trời, chẳng oán chẳng hờn, chỉ tu đức mình. Chỉ cần làm chủ ông chủ nghiệp của đời mình, cố gắng gieo trồng phước để mong tiêu diệt nghiệp cũ, vun bồi quả báo cho tương lai.

Người và nghiệp không rời nhau, như bóng với hình, Tôi có thể lấy ví dụ có quý vị dễ hiểu, ví dụ như người chuyên dạy học thì gọi là giáo viên hay giáo chức, bạn làm chung thì gọi là đồng nghiệp thành ra chữ nghiệp có nghĩa là nghề. Người làm công việc giết heo, bò cũng là nghề. Vậy nghề và nghiệp đều là một hành động tạo tác do con người tạo ra, nhưng chỉ có nhau về ý nghĩa thiện ác của cuộc đời này. Nghề dạy học thì dạy cho chúng ta biết đọc, biết viết, biết lễ phép nên gọi là nghiệp thiện, còn nghề giết hại heo, bò thì tạo ra đau khổ cho chúng sanh nên gọi là nghiệp xấu, nghiệp bất thiện.

Tại sao tôi nói nghề và nghiệp như bóng với hình, không tác rời nhau, nơi nào có nghề thì nơi đó có nghiệp. Vì, người làm thầy giáo và người giết heo, bò vì hoàn cảnh và điều kiện bên ngoài nên phải tha phương đến nơi khác làm việc nhưng khi đi cả hai đều bỏ lại tất cả, chỉ ra đi với hai bàn tay trắng. Tuy sự nghiệp và của cải bỏ lại không mang theo nhưng cái nghề của họ không ai lấy được. Họ tới đâu thì nghề đi đến đó. Thầy giáo đem khả năng của mình để tạo dựng sự nghiệp bằng việc dạy học, truyền trao kiến thức. Người chuyên nghề sát sanh lại đem nghề sát sanh để lập nghiệp. Như vậy quý vị có thấy rằng, tuy họ đi tay không nhưng có thật sự phải là tay không?

Tôi đưa thí dụ này để nói cho quý vị biết khi chúng ta khi tắt thở. Ai cũng tin rằng mình chết là phủi sạch hết ra đi tay không nhưng không ngờ mình ra đi bằng nghiệp đã tạo hoặc lành hoặc giữ. Trong Kinh A Hàm: Phật dạy những người sắp chết khi nhìn thấy gương mặt họ liền biết đi đường lành hay giữ, nếu ai sắp chết mặt dữ thì sẽ đi đường dữ vì nghiệp ác chiêu cảm những cảnh ác khiến con người ta lo sợ. Nghiệp theo sát bên mình, như Đức Phật nói bánh xe lăng theo chân con vật kéo xe.

Nếu tạo nghiệp thiện thì ra đi an vui nếu tạo nghiệp ác thì ra đi khổ sở bức bách. Cho nên người thế gian không hiểu đạo lý tưởng rằng khi chết là hết nhưng không ngờ chính lúc đó ra đi với nghiệp đã tạo trong lúc sống. Như vậy chỉ một câu kinh ngắn cũng đủ thức tỉnh chúng ta trong cuộc sống hiện tại để chọn lấy một cái nghiệp mà sống. Bấy nhiêu đây chúng ta tu thì cũng có thể tạo thành bao nhiêu điều tốt đẹp. Vậy nghiệp (Karma) là gì? Là những hành động thiện ác hàng ngày của chúng ta.

Đức Phật còn dạy thêm trong một kệ khác để nhấn mạnh sức mạnh của sự tinh cần:

“Người tinh cần, không phóng dật,

Người sáng trí, hành trì chánh niệm,

Người như vậy thoát vòng ma lực,

Như núi cao thoát cơn bão tố.”

Qua đó, Ngài muốn khuyến tấn chúng ta: tinh tấn không phải là cực đoan ép xác, mà là sự bền bỉ, tỉnh thức, và không buông lung trong từng hành động, từng phút giây. Thân thể rồi sẽ suy tàn, mắt tai có thể mất đi, nhưng nếu tâm luôn giữ được chánh niệm và trí tuệ, thì công hạnh vẫn tỏa sáng như ngọn núi tuyết giữa hư không, không gì có thể che khuất.

Câu chuyện của Trưởng lão Cakkhupāla vì vậy trở thành một minh chứng sống động cho lời Phật dạy. Nó nhắc nhở chúng ta rằng: thân căn có thể mất, nhưng ý chí tu tập và sự tinh tấn không bao giờ được buông bỏ. Chính đó là con đường đưa đến hạnh phúc, an lạc và giải thoát.

Và cũng tại thành Xá-vệ, Đức Thế Tôn vì nhân duyên Matthakundali mà tuyên thuyết Pháp Cú kệ thứ hai.

Matthakundali là con trai một của người Bà-la-môn tên Adinnapubbaka – có nghĩa là “không cho”, tuy bệnh nặng nhưng Matthakundali không được gia đình cho chữa trị. Khi mạng căn sắp dứt, Đức Thế Tôn quán sát thấy căn lành đã tròn đầy, liền thị hiện trước cửa nhà và phóng quang. Trong giây phút cuối cùng trước khi trút hơi thở cuối cùng, Matthakundali đã khởi lên tín tâm thanh tịnh nơi Đức Phật, liền xả báo thân, tái sinh cõi trời Tam Thập Tam Thiên – Tāvatiṃsābhūmi, là cõi trời thứ nhì trong 6 cõi trời dục-giới, có vị trí nằm trên đỉnh núi Sineru, hưởng phước báo thù thắng.

Sau khi thiêu xác con, người cha sầu khổ khóc than nơi bãi thiêu. Matthakundali hiện thân, dùng lời phương tiện chỉ rõ sự si mê của bi lụy đối với cái đã mất. Nhờ đó, Bà-la-môn dứt khổ ưu, phát khởi tín tâm, quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ giới.

Trước đại chúng còn nghi hoặc, Đức Thế Tôn gọi Matthakundali hiện tiền xác chứng rằng chỉ do một niệm kính tin thanh tịnh, không cần bố thí hay nghi lễ, cũng đủ làm nhân sanh thiên và khai mở con đường giải thoát. Nghe pháp, vô số người chứng Pháp nhãn thanh tịnh.

Nhân duyên ấy, Đức Thế Tôn dạy rằng:

“Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo.

Nếu với ý thanh tịnh,

Nói lên hay hành động,

An lạc bước theo sau,

Như bóng không rời hình.”

Đến câu kệ thứ hai này, quí vị có thể thấy sự đối lập so với câu kệ thứ nhất. Ở câu kệ thứ nhất Phật nói nếu khởi tâm ô nhiễm tạo nghiệp xấu thì phải chịu quả xấu, cũng như con bò kéo xe, chân đi tới đâu thì bánh xe lăn tới đó. Đến đây, ngược lại nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp thiện thì kết quả an vui sẽ theo nghiệp như bóng theo hình.

Tôi lấy ví dụ cho quí vị dễ hiểu, nếu ta sợ cái bóng của mình, liền cắm đầu chạy ngoài nắng để trốn bóng. Nhưng càng chạy, bóng càng theo; chạy đến đâu, bóng đuổi đến đó, rốt cuộc không bao giờ thoát. Không phải vì bóng có sức đuổi, mà vì người ấy không biết quay vào bóng râm. Chỉ cần dừng lại, bước vào chỗ mát, bóng tự nhiên biến mất. Cũng vậy, người đời sợ khổ mà chạy theo dục vọng, muốn trốn phiền não bằng những hơn thua, chiếm hữu, tìm cầu. Càng chạy, khổ càng theo; càng níu, não càng sâu. Khổ không mất vì chạy, chỉ mất khi tâm biết dừng lại.

Cũng vậy, có người không muốn nghiệp khổ đến với mình, nhưng lại không chịu dừng những việc xấu đang làm. Họ tạo nhân bất thiện rồi tìm cách tránh né quả báo, mong rằng chỉ cần cầu xin, lễ bái là đủ. Nhưng nghiệp không vận hành theo sự mong cầu, mà vận hành theo nhân đã gieo.

Có nhiều Phật tử quy y, thọ giới, mỗi tháng về chùa lễ Phật vài lần. Nhưng khi trở về đời sống thường ngày, lời nói ác vẫn buông ra, hành động sai vẫn tiếp diễn, tâm tham sân không giảm. Trong khi đó, họ lại mong quả khổ đừng đến với mình. Điều ấy không thể xảy ra.

Nghiệp không phải là một sự trừng phạt từ bên ngoài, mà là kết quả tự nhiên của thân, khẩu, ý đã huân tập thành thói quen. Khi nhân còn đó, nghiệp vẫn tiếp tục trổ. Không ai có thể chạy trốn nghiệp do chính mình tạo ra.

Muốn nghiệp xấu chấm dứt, không phải tìm cách tránh quả, mà phải chuyển đổi nhân. Chỉ khi hành động được sửa, lời nói được thanh lọc, tâm ý được điều phục, thì dòng nghiệp mới đổi hướng. Khi nhân thiện được gieo đều đặn, nghiệp xấu dần suy yếu, và quả khổ không còn điều kiện để sinh khởi.

Tóm lại, Đức Phật dạy rằng mọi nghiệp, dù lành hay dữ, đều khởi từ tâm. Tâm là gốc của nghiệp; tín tâm là nhân của an lạc. Ở đâu tâm thanh tịnh, ở đó phước lành theo sau, không hề sai lệch. Chính những ý niệm thiện hay bất thiện trong tâm mới tạo thành nghiệp thiện hay nghiệp ác.

 

Vì vậy, người biết tu không chỉ dừng ở việc giữ thân hay giữ miệng, mà phải quay về tu nơi tâm. Khi một ý niệm xấu vừa manh nha, liền tỉnh giác và buông bỏ; khi một ý niệm lành khởi lên, liền nuôi dưỡng và làm cho tăng trưởng. Biết rõ, buông đúng, giữ đúng – đó chính là con đường tu tập chân chánh.

Tu được như vậy thì nghiệp dần chuyển, tâm dần sáng, và an lạc tự nhiên hiện tiền.

Thí dụ, khi thấy một người đang đau khổ, trong tâm khởi lên ý muốn giúp đỡ để họ vơi bớt khổ đau, đó là niệm lành. Từ niệm lành ấy, nếu ta tìm cách hành động giúp đỡ, thì nghiệp lành được nuôi dưỡng và tăng trưởng.

Ngược lại, khi thấy người có tiền của mà trong tâm khởi lên ý muốn chiếm đoạt, đó là niệm dữ. Nếu biết rõ ý nghĩ ấy là tội lỗi, liền tỉnh giác và dừng lại ngay, không cho tiếp tục nghĩ nữa, thì đó chính là biết tu. Tu như vậy là chặn ngay từ gốc.

Bởi nếu chỉ giữ ở bên ngoài, không trộm cướp bằng hành động, mà trong tâm vẫn mặc tình nuôi dưỡng ý nghĩ xấu, thì đến khi ý niệm ấy đủ mạnh, gặp duyên thích hợp, nó sẽ lôi kéo thân hành động theo. Khi ấy, giữ thân cũng không còn giữ được nữa.

Vì vậy, người biết tu là người quay thẳng về nơi tâm niệm mà tu. Tâm niệm là chủ, là nơi phát sinh mọi hành động và lời nói. Giữ tâm chứ không giữ cảnh. Tu ngay nơi tâm niệm, đó mới là tu tận gốc. Nếu không như vậy, chỉ giữ gìn bên ngoài mà bỏ quên bên trong, thì sự tu tập chỉ là phần ngọn, lợi ích rất ít, khó đưa đến chuyển hóa thật sự.