Sau khi Đức Phật Niết bàn được 100 năm, Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ hai được tổ chức. Tiếp đó, đúng 118 năm sau, cuộc kết tập lần thứ ba lại diễn ra. Như vậy, lần kết tập này được thực hiện vào năm thứ 218 sau ngày Phật Niết bàn, tương đương khoảng năm 325 trước Tây lịch. Đại hội do Hoàng đế A Dục khởi xướng và bảo trợ. Sau khi lên ngôi, trong ba năm đầu, vua A Dục vẫn phụng sự ngoại đạo theo truyền thống của các đời tiên vương. Đến năm thứ ba, nhân duyên gặp được một vị Sa di tên Nê Cù Đà với phong thái uy nghi, dung mạo đoan nghiêm và oai hạnh thanh tịnh, nhà vua liền sinh lòng kính tín Phật pháp.

Nê Cù Đà chính là con của Thái tử Tu Ma Na. Khi A Dục sát hại các anh em trong hoàng tộc để đoạt ngôi, mẹ của Nê Cù Đà đang mang thai nên may mắn trốn thoát. Sau này bà sinh ra Nê Cù Đà. Đến năm bảy tuổi, cậu được A la hán Bà Lưu Na cho xuất gia làm Sa di. Tương truyền rằng, trong lúc thầy thế phát, tóc vừa rơi chưa chạm đất thì Nê Cù Đà đã chứng quả A la hán. Trong một tiền kiếp xa xưa, Nê Cù Đà từng là anh của vua A Dục. Hai người cùng tu hành và tạo nhiều công đức, nên đời này vừa gặp nhau, nhà vua đã sinh thiện cảm đặc biệt. Nhờ thiện căn nhiều đời, vua A Dục nhanh chóng phát khởi lòng tin sâu xa nơi Tam Bảo. Nhà vua hết lòng hộ trì Phật pháp, mỗi ngày cúng dường đến sáu vạn vị Tăng. Đồng thời, vua cho xây dựng 84.000 ngôi già lam và 84.000 bảo tháp khắp quốc độ cùng các nước chư hầu lân cận. Khi các tự viện và bảo tháp hoàn thành, vua mở đại lễ khánh hạ và cúng dường rộng lớn đến chư Tăng. Nhìn thấy oai nghi và giới hạnh thanh tịnh của Thánh chúng, niềm tin của nhà vua đối với Phật pháp càng thêm sâu vững. Vì vậy, vua cho người con trai là Ma Sẩn Đà và con gái là Tăng Già Mật Đa xuất gia cùng lúc. Ma Sẩn Đà lúc ấy vừa tròn hai mươi tuổi, được Trưởng lão Mục Kiền Liên Tử Đế Tu làm Bổn sư. Tăng Già Mật Đa khi ấy mười tám tuổi, xuất gia với Trưởng lão Đàm Ma Ba La. Tuy nhiên, vì vua quá trọng đãi Tăng đoàn nên đời sống khất thực của ngoại đạo ngày càng khó khăn. Do đó, nhiều người giả dạng xuất gia để nương nhờ sự cúng dường. Trong số ấy có kẻ theo đạo thờ lửa, có người theo phái lõa thể, có người thực hành khổ hạnh dầm mình trong nước lạnh. Dù khoác áo Sa môn nhưng họ vẫn giữ tập tục và giáo lý ngoại đạo, thậm chí còn đem tà thuyết giảng dạy cho tín chúng, khiến Phật pháp trở nên hỗn loạn. Vì vậy, các vị Tỳ kheo chân chính không thể cùng họ bố tát, tự tứ hay làm Phật sự chung. Tăng đoàn dần rơi vào tình trạng chia rẽ và suốt bảy năm không thể hòa hợp thuyết giới. Chứng kiến sự bất hòa ấy, vua A Dục vô cùng đau lòng. Muốn chấn chỉnh Tăng đoàn, vua sai một vị đại thần đến các tự viện truyền lệnh yêu cầu chư Tăng phải hòa hợp bố tát. Nhưng các vị Tỳ kheo vẫn im lặng, không chấp nhận. Vị quan Khâm sai không biết xử trí ra sao nên trở về bàn bạc với một viên quan khác. Người kia hiến kế rằng: “Khi đại vương chinh phạt thiên hạ, ai chống lệnh đều bị xử tội. Nay việc này cũng nên như thế.” Nghe lời xúi giục, viên Khâm sai quay lại tự viện, chất vấn vị Thượng tọa: “Đại vương đã có sắc lệnh hòa hợp thuyết giới, vì sao chư vị không tuân theo?” Vị Thượng tọa điềm tĩnh đáp: “Các thiện Tỳ kheo không thể bố tát chung với những người ngoại đạo trà trộn vào Tăng đoàn, chứ không phải chống lệnh vua.” Nghe vậy, viên Khâm sai liền rút gươm sát hại vị Thượng tọa ấy, rồi tiếp tục định giết các vị khác. Đến khi gặp Tỳ kheo Túc Đại Đa, ngài liền ngăn lại và quở trách việc giết hại người vô tội. Viên quan đành dừng tay rồi trở về triều tâu lại sự việc. Nói về nhân duyên xuất gia của Túc Đại Đa: một lần vào rừng du ngoạn, ông nhìn thấy đàn nai giao phối và khởi nghi rằng: “Loài nai chỉ ăn cỏ uống nước mà còn bị dục vọng chi phối như thế, huống hồ các Tỳ kheo sống trong phòng kín, ăn uống đầy đủ thì làm sao tránh khỏi?” Ông đem điều ấy thưa với vua A Dục. Nhà vua nghe xong liền âm thầm tìm cách khai thị cho em mình. Vua khiến Túc Đại Đa rơi vào tình cảnh tưởng như sắp bị xử tử rồi bảo: “Ta cho ngươi hưởng vinh hoa trong bảy ngày cuối cùng, sau đó sẽ trị tội.” Trong bảy ngày ấy, Túc Đại Đa được sống giữa cung điện xa hoa, mỹ nữ hầu hạ, yến tiệc linh đình. Nhưng vì luôn ám ảnh cái chết cận kề nên ông chẳng còn lòng dạ nào hưởng thụ, thân thể dần tiều tụy. Hết bảy ngày, vua hỏi: “Ngươi đã được hưởng mọi lạc thú thế gian, có thấy vui thích không?” Túc Đại Đa thành thật thưa rằng mình chỉ sống trong lo sợ, ăn ngủ không yên. Vua A Dục liền dạy: “Chỉ vì biết trước cái chết sau bảy ngày mà ngươi còn khổ sở đến thế. Huống hồ các Tỳ kheo quán niệm vô thường trong từng hơi thở, đâu còn tâm trí để đắm nhiễm dục lạc thế gian.”
Nghe xong, Túc Đại Đa bừng tỉnh, phát khởi lòng tin sâu sắc nơi Phật pháp và sau đó xuất gia tu hành. Trở lại sự việc trước, khi nghe viên Khâm sai thuật lại chuyện giết hại chư Tăng, vua A Dục vô cùng đau đớn, ngất lịm giữa triều đình. Tỉnh lại, vua quở trách: “Trẫm sai khanh đi truyền lệnh hòa hợp thuyết giới, đâu có bảo giết người!” Sau đó, vua đích thân đến hỏi chư Tăng rằng trong việc này ai là người mang tội. Có vị cho rằng do vua ban lệnh nên vua có tội. Có vị nói cả hai đều có tội. Nhưng cũng có vị hỏi lại: “Đại vương có tâm muốn giết hại chăng?” Vua đáp: “Ta chỉ mong Tăng đoàn hòa hợp và tạo công đức, tuyệt không có ý sát hại.” Vị ấy liền kết luận: “Nếu tâm đại vương không có ý giết hại thì đại vương vô tội; kẻ trực tiếp giết người mới là người mang tội.” Tuy nghe nhiều ý kiến khác nhau nhưng vua vẫn chưa hết nghi hoặc. Chư Tăng bèn thưa rằng chỉ có Trưởng lão Mục Kiền Liên Tử Đế Tu, bậc A la hán chứng Tam minh, mới có thể giải tỏa mọi nghi ngờ của vua. Vua liền chuẩn bị lễ cúng dường trọng thể rồi cung thỉnh Trưởng lão cùng đại chúng vào cung thọ trai. Sau bữa trai tăng, vua thỉnh Trưởng lão đến đạo tràng tại Viên Lâm. Để thử xem ngài có đủ khả năng đoạn nghi cho mình hay không, vua thỉnh cầu ngài thị hiện thần thông. Trưởng lão hoan hỷ đáp ứng, khiến vua càng thêm kính phục. Sau đó, vua đem mọi nghi vấn bày tỏ. Trưởng lão hỏi lại: “Khi ấy đại vương có tâm sát hại không?” Vua đáp: “Đệ tử chỉ muốn hộ trì Tăng đoàn và tạo phước, hoàn toàn không có tâm giết hại.” Trưởng lão kết luận: “Nếu không có tâm sát hại thì đại vương không mang tội.” Rồi ngài giảng kinh Bản Sinh và nhiều giáo pháp sâu xa cho vua nghe suốt bảy ngày liên tục, phân biệt thế nào là đúng pháp, thế nào là phi pháp, điều nào do Phật dạy và điều nào không phải lời Phật dạy. Sau khi nghe pháp, vua vô cùng hoan hỷ và tin rằng Phật pháp cần được thanh lọc. Nhà vua cho phân Tăng chúng thành hai khu vực riêng biệt, mỗi nhóm cử một vị đại diện để trả lời các câu hỏi. Khi vua hỏi nhóm thứ nhất: “Phật pháp là gì?” Họ trả lời hỗn tạp: người nói là thường, kẻ nói là đoạn, người cho rằng có tưởng, người lại nói phi tưởng phi phi tưởng… Nghe vậy, vua biết đây không phải Tỳ kheo chân chính mà chỉ là ngoại đạo trà trộn. Nhà vua liền ra lệnh cởi bỏ pháp phục của họ, trả lại y phục trắng và trục xuất khỏi Tăng đoàn. Sau đó vua sang khu vực của sáu vạn Tỳ kheo chân chính và hỏi: “Phật pháp là gì?” Vị đại diện đáp: “Đức Phật thuyết pháp tùy căn cơ chúng sinh mà phương tiện chỉ dạy.” Vua quay sang hỏi Trưởng lão Mục Kiền Liên Tử Đế Tu, ngài xác nhận đó là chánh pháp. Từ đó, Phật pháp được thanh tịnh trở lại, Tăng đoàn tái lập hòa hợp bố tát như xưa. Sau khi vua hồi cung, chư Tăng suy cử Trưởng lão Mục Kiền Liên Tử Đế Tu làm chủ tọa và tuyển chọn 999 vị Tỳ kheo A la hán tinh thông Tam tạng để mở Đại hội kết tập Pháp Tạng lần thứ ba. Thể thức kết tập vẫn giống như hai lần trước. Đại hội kéo dài suốt chín tháng thì hoàn tất. Vì có tất cả một ngàn vị A la hán tham dự, kể cả vị chủ tọa, nên còn được gọi là “Đại hội kết tập của một ngàn vị La hán”. Sau kỳ kết tập, Trưởng lão Mục Kiền Liên Tử Đế Tu biên soạn các bộ luận nhằm bác bỏ tà thuyết ngoại đạo. Trước lúc viên tịch, ngài sai Đại đức Ma Sẩn Đà đem Luật tạng sang nước Sư Tử (Sri Lanka – Tích Lan) truyền bá Phật pháp. Từ đó, giáo pháp được truyền thừa liên tục qua nhiều thế hệ luận sư A la hán cho đến về sau.
Vài điều ghi nhận
- Lý do kết tập: Do ngoại đạo trà trộn vào Tăng đoàn, khiến Phật pháp hỗn loạn và Tăng chúng bất hòa, nên cuộc kết tập được tổ chức nhằm thanh lọc và củng cố chánh pháp.
- Thời gian kết tập: Diễn ra vào năm thứ 218 sau ngày Phật Niết bàn, tương đương khoảng năm 325 trước Tây lịch, và kéo dài trong chín tháng.
- Địa điểm kết tập: Tại Viên Lâm, thành Hoa Thị, nước Ma Kiệt Đà.
- Vị chủ tọa: Trưởng lão Mục Kiền Liên Tử Đế Tu.
- Thành phần tham dự: Một ngàn vị A la hán tinh thông Tam tạng và chứng Tam minh.
- Người bảo trợ: Hoàng đế A Dục.
- Giá trị lịch sử: Hai kỳ kết tập đầu tiên đều được cả Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền công nhận. Riêng kỳ kết tập lần thứ ba chủ yếu được ghi lại trong Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa và Đảo sử Tích Lan, trong khi thư tịch Bắc truyền không xem đây là cuộc kết tập chung của toàn thể Phật giáo mà chỉ là sự kết tập của một bộ phái.
Soạn giả: Minh Bảo
