Sau khi Đức Phật Niết bàn khoảng 400 năm, tại nước Kiền Đà La (Gandhāra) có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) trị vì. Đất nước lúc bấy giờ hưng thịnh, uy danh vang khắp nơi, các quốc gia lân cận đều thần phục. Trong những lúc rảnh việc triều chính, nhà vua thường nghiên cứu kinh điển Phật giáo và mỗi ngày đều cung thỉnh một vị cao tăng vào cung thuyết pháp.

Tuy nhiên, vua nhận thấy mỗi vị giảng giải theo một quan điểm khác nhau, không ai hoàn toàn giống ai, nên trong lòng rất băn khoăn. Muốn tìm hiểu nguyên nhân, vua thỉnh giáo Hiếp Tôn Giả
(Pārśva). Tôn giả liền thưa: “Bạch Đại vương, từ ngày Như Lai nhập diệt đến nay đã trải qua nhiều năm tháng. Hàng đệ tử đời sau thường y theo sở học của thầy mình mà lập thành kiến giải riêng, vì vậy mới phát sinh những quan điểm bất đồng.”
Nghe lời ấy, vua vô cùng cảm khái rồi bạch rằng: “Trẫm nhờ phước đức tổ tiên nên được nối ngôi cai trị thiên hạ. Tuy sinh sau thời Phật, nhưng vẫn còn may mắn được thấm nhuần pháp vị. Nay trẫm muốn tận hết khả năng của mình để hộ trì chánh pháp, mở đại hội kết tập nhằm dung hội và thống nhất các quan điểm dị biệt của chư bộ phái.”
Hiếp Tôn Giả tán thán: “Đại vương nhiều đời đã gieo trồng căn lành nên nay vừa đủ phước báo, vừa có lòng hộ trì Tam
Bảo. Đó thật là điều đáng quý.” Thế rồi, vua truyền lệnh triệu tập các bậc cao tăng, luận sư và hiền triết khắp nơi về kinh thành.
Sau khi thiết lễ cúng dường suốt bảy ngày, nhà vua bắt đầu tuyển chọn thành phần tham dự đại hội.
Ban đầu, vua tuyên bố: “Những vị đã chứng Thánh quả thì ở lại, những vị còn phiền não xin trở về trú xứ.”
Tuy vậy, số người vẫn quá đông. Vua lại tiếp tục chọn lọc:
• Chỉ giữ lại các bậc vô học (A la hán),
• Rồi đến những vị đầy đủ tam minh lục thông,
• Cuối cùng là những vị tinh thông Tam tạng và quán triệt cả ngũ minh ngoại điển.
Sau bốn lần tuyển chọn, hội chúng còn lại đúng 499 vị Thánh tăng. Lúc ấy, vua định đưa đại hội đến thành Vương Xá – nơi tôn giả Ca Diếp từng kết tập giáo pháp xưa kia. Nhưng Hiếp Tôn Giả cùng đại chúng khuyên rằng không nên, vì nơi ấy có nhiều ngoại đạo và học phái khác nhau, dễ gây trở ngại cho việc kết tập. Hơn nữa, nước Kiền Đà La lúc bấy giờ là nơi địa thế kiên cố, thánh hiền hội tụ, thích hợp để thực hiện đại sự.
Vua nghe xong liền chấp thuận, rồi cho xây dựng đại già lam tại thành Ca Thấp Di La (Kasmira) để làm nơi kết tập.
Trong lúc đại hội chuẩn bị khai mở, chư vị A la hán thấy tôn giả Thế Hữu (Vasumitra) mặc y phục sơ sài, đứng bên hành lang, liền bảo:
“Ông chưa đoạn hết kiết sử, nếu tham dự luận nghị e sẽ sinh sai sót. Hãy nên lui về nơi khác tu tập.”
Thế Hữu điềm tĩnh đáp: “Tuy tôi chưa phải bậc đại trí, nhưng đối với Tam tạng và ngũ minh cũng từng nghiên cứu thấu đáo. Nay chư hiền vì muốn tuyên dương chánh pháp nên mới hội họp nơi đây, tôi cũng nguyện
góp chút sở học của mình.” Các vị A la hán vẫn chưa tin, liền khuyên ông nên tinh tấn tu hành để chứng quả vô học rồi hãy
tham dự.
Nghe vậy, Thế Hữu nói:
“Tôi xem quả vị Thanh văn như đàm dãi, chí nguyện chỉ cầu Phật đạo.” Nói xong, ngài ném chiếc y rách xuống đất. Tương truyền khi y còn chưa chạm đất thì ngài đã chứng quả A la hán. Chư vị A la hán vẫn còn nghi ngờ nên quở trách ngài là người tăng thượng mạn.
Để đoạn trừ mọi nghi hoặc, Thế Hữu liền tung chiếc y lên hư không. Chư thiên hiện xuống đón lấy và cung kính thưa: “Tôn giả nên cầu thành Phật để kế thừa Đức Di Lặc trong tương lai, làm bậc tôn quý của ba cõi.”
Chứng kiến điềm lành ấy, đại chúng đều kính phục, đồng thanh thỉnh tôn giả tham gia đại hội cho đủ số 500 vị Thánh giả. Đồng thời, hội nghị suy cử Thế Hữu làm Đệ nhất chủ tọa và Hiếp Tôn Giả
làm Đệ nhị chủ tọa để quyết định những vấn đề còn dị nghị. Sau nhiều lần nghị luận, khảo xét và biểu quyết, đại hội biên soạn thành ba bộ đại luận:
1. Ưu Ba Đề Xá – giải thích Kinh tạng, gồm 100.000 bài tụng.
2. Tì Nại Da Tì Bà Sa – giải thích Luật tạng, gồm 100.000 bài tụng.
3. A Tì Đạt Ma Tì Bà Sa – giải thích Luận tạng, gồm 100.000 bài tụng.
Tổng cộng cả ba bộ gồm 300.000 bài tụng với khoảng 9.600.000 lời, nhằm giải thích trọn vẹn Tam tạng giáo điển. Những chỗ sâu kín được khai mở, những nghĩa lý khó hiểu được làm sáng tỏ để lưu truyền cho hậu thế.
Sau khi hoàn thành, vua Ca Nị Sắc Ca cho đúc những lá đồng mỏng bằng đồng đỏ để khắc chép toàn bộ luận văn, rồi cất giữ trong hang đá và xây tháp bên trên để cúng dường. Nhà vua còn sai thần Dược Xoa canh giữ, không cho người ngoài mang các bộ luận ra khỏi lãnh thổ. Khi mọi việc viên mãn, vua thiết lễ trai tăng trọng thể để khánh chúc đại hội kết tập thành công.
